Phương pháp dựa trên sở thích bộc lộ liên quan đến việc xác định giá trị mà người tiêu dùng nắm giữ đối với hàng hóa môi trường bằng cách quan sát việc mua hàng hóa của họ trên thị trường có liên quan trực tiếp (hoặc gián tiếp) đến chất lượng môi trường. Đồng thời, các phương pháp này đã được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến từ cuối thế kỷ 20 để xác định giá trị mà xã hội nắm giữ đối với không khí sạch và nước sạch. Do đó, một số phương pháp, kỹ thuật định giá tài nguyên nước dựa trên sở thích bộ lộ được tổng hợp trong phần dưới đây là cần thiết trong việc xác định hiện trạng để xây dựng cấu trúc quản trị ngành nước tốt hơn. Các phương pháp định giá kinh tế như thị hiếu được bộc lộ, sở thích được nói rõ sẽ thích hợp hơn cho quá trình định giá tài nguyên qua cách gián tiếp (phi thị trường). Dưới đây là các phương pháp được sử dụng phổ biến nhất dựa trên sở thích bộc lộ.

Mô hình chi phí đi lại (Travel Cost Models – TCM)
Khái niệm: TCM sử dụng phân tích thống kê để xác định mức độ sẵn sàng trả tiền của mọi người để thăm tài nguyên thiên nhiên (vườn quốc gia, sông); đường cầu đối với tài nguyên thu được bằng phân tích mối quan hệ giữa các lựa chọn tham quan và chi phí đi lại [1].
Ưu điểm: Dựa trên hành vi thực tế hơn là phản ứng bằng lời nói đối với các tình huống giả định, được áp dụng mà không tốn kém nhiều chi phí thực hiện.
Nhược điểm: TCM bị giới hạn trong phạm vi áp dụng vì sự yêu cầu sự tham gia của đối tượng khảo sát. Nó không thể được sử dụng để gán giá trị cho các tính năng và chức năng môi trường tại chỗ mà người sử dụng địa điểm không có giá trị.
Định giá hưởng thụ (Hedonic Pricing Methods – HPM)
Khái niệm: HPM sử dụng phân tích thống kê để thể hiện giá cả của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ như một hàm của một số thành phần (hiển thị giá của một ngôi nhà như một hàm của số lượng phòng, quy mô trường học địa phương và chất lượng không khí cảnh quan) [2].
Ưu điểm: Dữ liệu thu thập có sẵn và dễ dàng liên kết với các nguồn dữ liệu thứ cấp khác.
Nhược điểm: Các ước tính giá ngầm có thể bị sai lệch.
Chi phí thay thế (Replacement Cost – RC)
Khái niệm: RC đánh giá các chi phí thay thế các tài sản bị hư hỏng, bao gồm cả tài sản môi trường, bằng cách giả định các chi phí này là ước tính về các luồng lợi ích từ hành vi không hoạt động.
Ưu điểm: RC phân tích thống kê đơn giản, dễ dàng điều chỉnh giá trị con người của xu hướng giá cả, cung cấp giá trị thực tại thời điểm giá cả tăng lên [3].
Nhược điểm: Giá trị thường thấp hơn ước tính.
Phòng tránh chi tiêu (Avertive Expenditures – AE)
Khái niệm: Trong bối cảnh tài nguyên nước, các hộ gia đình có thể ứng phó với sự suy thoái gia tăng của các đầu vào này theo nhiều cách (hành vi ngăn chặn hoặc phòng vệ) để tránh các tác động bất lợi của chất gây ô nhiễm nước.
Ưu điểm: Nguồn ước tính định giá có tiềm năng quan trọng vì nó đưa ra các ước tính đúng về mặt lý thuyết, thu được từ các chi tiêu thực tế và do đó có giá trị tiêu chí cao.
Nhược điểm: Ít khi được sử dụng, khoản chi tiêu không đo lường được tất cả các chi phí liên quan đến ô nhiễm ảnh hưởng đến tiện ích của hộ gia đình, chỉ có thể cung cấp một ước tính có giới hạn thấp hơn về chi phí thực sự của việc gia tăng ô nhiễm.
Tiếp cận chức năng sản xuất (Production Function Approach – PFA)
Khái niệm: PFA sử dụng để định giá hàng hóa và dịch vụ phi thị trường đóng vai trò là đầu vào để sản xuất hàng hóa bán trên thị trường, giá trị ẩn của nước cũng có thể được tính toán bằng cách đo lường sự đóng góp của nước vào lợi nhuận.
Ưu điểm: Được sử dụng trong nông nghiệp để phân tích ước tính nhu cầu nước hoặc ước tính giá trị của nước, dễ sử dụng, ít giả định hơn, ít mô hình hóa/ phân tích thống kê.
Nhược điểm: Nhiều hàng hóa/ dịch vụ không có thị trường hoặc có thị trường bóp méo.
Thu nhập yếu tố ròng (Net Factor Income – NFI)
Khái niệm: Ước tính những thay đổi trong thặng dư của nhà sản xuất bằng cách trừ đi chi phí của các yếu tố đầu vào khác trong sản xuất từ tổng doanh thu và quy định thặng dư còn lại là giá trị của đầu vào của môi trường.
Ưu điểm: NFI quan trọng trong việc xác định thu nhập tạo ra trong nước và thu nhập do công dân tạo ra ở nước ngoài.
Nhược điểm: Không thể hiện mức độ bất bình đẳng thu nhập trong xã hội hay biết tốc độ tăng trưởng của quốc gia có bền vững hay không.
Chi phí bệnh tật (Cost-of-Illness – COI)
Khái niệm: Lợi ích của việc giảm thiểu ô nhiễm được đo lường bằng cách ước tính khoản tiết kiệm có thể có trong các chi phí trực tiếp từ tiền túi do bệnh tật (chi phí y tế, bác sĩ, bệnh viện) và chi phí cơ hội (thu nhập bị mất liên quan đến bệnh tật).
Ưu điểm: Có cái nhìn toàn cảnh về tác động mà xã hội phải đối mặt từ dịch bệnh, dễ thực hiện mà không cần làm nhiều cuộc khảo sát.
Nhược điểm: Không đo lường được WTP hoặc thể hiện được yếu tố quan trọng của WTP như đau đớn và sức chịu đựng từ bệnh tật [4].

